TS.Phan Hữu Thắng – Chủ tịch VIPFA: Hình thành hệ thống KCN sinh thái đang là sự thôi thúc

Tổng hợp tin tức và sự kiện GIBC

TS.Phan Hữu Thắng – Chủ tịch VIPFA: Hình thành hệ thống KCN sinh thái đang là sự thôi thúc

26-06-2025
Ngày 26/6/2024, TS.Phan Hữu Thắng – Chủ tịch Liên chi hội Tài chí­nh KCN Việt Nam (VIPFA), Nguyên Cục trưởng Cục đầu tư nước Ngoài- Bộ KH&ĐT đã tham dự và có bài phát biểu tại Hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề: Phát triển kinh tế xanh – Lý luận và Thực tiễn.
Hội thảo do Báo Nhân Dân, nhà xuất bả Chí­nh trị quốc gia Sự thật, đảg ủy Khối doanh nghiệp Trung ương, Báo điện tử­ đảg Cộng sả Việt Nam, Học viện Báo chí­ và Tuyên truyền và Tỉnh ủy Nam định phối hợp tổ chức tại Nam định.
TS.Phan Hữu Thắng phát biểu về Xây dựng KCN xanh, KCN sinh thái tại Hội thảo
Phát biểu tại Hội thảo, TS.Phan Hữu Thắng nhấn mạnh: Hình thành hệ thống KCN sinh thái là con đường tất yếu, là hết sức cân thiết và đang là sự thôi thúc trong bối cảnh hiện nay. Các KCN sinh thái xuất hiện sẽ tạo động lực mới để chuyển đổi KCN của cả nước theo tiêu chuẩn mới.

Hình ảnh trong hội thảo
Sau đây là bài phát biểu của TS.Phan Hữu Thắng- Chủ tịch VIPFA:

Xanh – xu hướng tất yếu

Phát triển bền vững và tăng trưởng xanh là xu thế chung, là mục tiêu quan trọng của mọi quốc gia trong giai đoạn hiện nay. Sau đại dịch COVID-19, những biến động địa chí­nh trị đã khiến thế giới trở nên bất định, kinh tế thế giới biến động nhanh, khó dự báo dẫn đến sự chuyển dịch dòng vốn đầu tư quốc tế, kéo theo sự chuyển dịch của chuỗi sả xuất, cung ứng Toàn cầu. Trong sự chuyển dịch đó hiện nay, trước đà²i hỏi bắt buộc về phát triển bền vững lấy nền tảng phát triển xanh làm cơ sở. Các nhà đầu tư nước Ngoài, đặc biệt là các nhà đầu tư có các dự án công nghệ cao đang đặt ra những yêu câu cao hơn về điều kiện cho phát triển xanh mà các khu công nghiệp (KCN) phải có. Theo đó, các KCN cân có đủ điều kiện cho đầu tư xanh. Việc chuyển các KCN từ mô hình truyền thống hiện nay sang mô hình KCN sinh thái thực sự không dễ và đà²i hỏi có một thời gian nhất định để có thể chuyển đổi vì còn phụ thuộc vào nguồn lực Tài chí­nh từ kết quả sả xuất-kinh doanh, từ nguồn công nghệ cung ứng phù hợp với hiện trạng hiện nay của KCN.
Nếu các KCN hiện có đã được lấp đây với các dự án đang hoạt động, sẽ chuyển đổi từng bước sang mô hình các KCN sinh thái thì vừa phù hợp với khả năng, thực trạng của các doanh nghiệp trong các KCN và cũng phù hợp chí­nh doanh nghiệp là chủ đầu tư cơ sở hạ tầng các KCN trước yêu câu phát triển xanh hiện nay. Nhưng các KCN đã lấp đây không còn đất cho các dự án đầu tư mới. Do vậy từ nay cân tập trung đầu tư các KCN mới theo một mô hình KCN sinh thái. đây là định hướng cân nhất quán để hệ thống KCN Việt Nam góp phân đóng góp, phục vụ mục tiêu phát triển bền vững kinh tế – xã hội Việt Nam trong giai đoạn tới.

Tăng trưởng xanh và xu hướng phát triển KCN trong giai đoạn mới

Tăng trưởng xanh là một trình độ mới của sự tăng trưởng gắn với quá trình giảm thiểu các-bon, cân bằng năng lượng và giảm phát thải riêng bằng 0. Tăng trưởng xanh được xác định là nền tảng của phát triển kinh tế – xã hội bền vững của các quốc gia trên thế giới. Tăng trưởng xanh là sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, híi hoí giữa phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ môi trường. Từng quốc gia đều đặt ra các mục tiêu tăng trưởng xanh phù hợp với thực tế phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia.
Việt Nam là một trong những quốc gia tiếp cận tăng trưởng xanh khá sớm với quyết tâm mạnh mẽ thể hiện khát vọng trở thành quốc gia phát triển bền vững. Theo đó Việt Nam đã hai lân ban hành chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh:
Lân thứ nhất, Ngày 25/9/2012, Thủ tướng ban hành “Chiến lược quốc gia về Tăng trưởng xanh thời kỳ 2011- 2020 và tâm nhìn đến 2050” tại Quyết định số 1339/Qđ-TTg;
Lân thứ hai, Ngày 1/10/2021, Thủ tướng Chành phủ đã ban hành Quyết định số 1658/Qđ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021- 2030, tâm nhìn 2050 (gọi tắt là “Chiến lược tăng trưởng xanh”).
Chiến lược tăng trưởng xanh tập trung nhấn mạnh vào khai thác và sử­ dụng tiết kiệm, hiệu quả năng lượng, Tài nguyên dựa trên nền tảng khoa học và công nghệ, ứng dụng công nghệ số và chuyển đổi số, phát triển kết cấu hạ tầng xanh, bền vững.
Trước Chiến lược tăng trưởng xanh nêu trên, Nghị quyết số 50-NQ/TW Ngày 20/8/2019 về định hướng hoàn thiện thể chế, chí­nh sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước Ngoài đến năm 2030 đã đặt ra yêu câu: “Chủ động thu hút, hợp tác đầu tư nước Ngoài có chọn lọc, lấy chất lượng, hiệu quả, công nghệ và bảo vệ môi trường là tiêu chí­ đánh giá chủ yếu. Ưu tiên các dự án có công nghệ tiên tiến, công nghệ mới, công nghệ cao, công nghệ sạch, Quản trị hiện đại, có giá trị gia tăng cao, có tác động lan toả, kết nối chuỗi sả xuất và cung ứng Toàn cầu”.
Việc tổ chức thực hiện Chiến lược tăng trưởng xanh và các Nghị quyết của đảg, Chí­nh phủ nêu trên cho thấy cân phải có các giải pháp cụ thể: từ tháo gỡ các vướng mắc về sự thiếu đồng bộ của hệ thống luật pháp hiện hành, tháo gỡ khó khăn trong thực hiên các thủ tục hành chí­nh liên quan, và đưa ra các hỗ trợ có thể có từ nhà nước…để các KCN sớm có đủ điều kiện cho đầu tư xanh.

KCN và yêu câu mô hình mới

Trước xu hướng phát triển bền vững và tăng trưởng xanh là xu thế bao trùm trên thế giới, nhiều quốc gia đã triển khai mô hình KCN bền vững dưới dạng các KCN sinh thái. Tại Việt Nam, việc phát triển KCN, KKT cân có những mô hình mới với các cơ chế chí­nh sách phù hợp để nâng cao hiệu quả sử­ dụng đất, thu hút đầu tư và tận dụng được cuộc CMCN lân thứ 4.0. Việc Xây dựng các KCN xanh cũng đã được thực hiện từ nhiều năm trước. Những năm gân đây, Việt Nam đang từng bước chuyển đổi mô hình phát triển, trong đó là chuyển đổi việc phát triển các KCN theo hướng bền vững theo mô hình KCN sinh thái.
KCN được xác định là KCN sinh thái khi trong KCN đó các doanh nghiệp tham gia hoạt động sả xuất với mục đà­ch tăng cường sự sạch sẽ và hiệu quả trong việc sử­ dụng Tài nguyên. Trong KCN sinh thái, doanh nghiệp hợp tác và liên kết để thực hiện hoạt động cộng sinh doanh nghiệp, thực hiện hoạt động hợp tác trong một KCN hoặc trong các KCN khác nhau để tối ưu hóa việc sử­ dụng hoặc tái sử­ dụng yếu tố đầu vào, đầu ra như nguyên liệu, vật liệu, nước, năng lượng, chất thải, phế liệu và yếu tố khác trong quá trình sả xuất kinh doanh. Doanh nghiệp trong KCN sinh thái cũng phải là doanh nghiệp sinh thái. Tức là doanh nghiệp thực hiện đồng thời các giải pháp sả xuất sạch hơn, sử­ dụng hiệu quả Tài nguyên và cộng sinh công nghiệp.
Việc Xây dựng KCN sinh thái và chuyển đổi KCN truyền thống thành KCN sinh thái vừa phù hợp với Chiến lược quốc gia về Tăng trưởng xanh, vừa thực hiện cam kết của Việt Nam trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) 2030 của Liên hợp quốc và Thỏa thuận Paris về biến đổi khí­ hậu. Cũng là thực hiện cam kết của Thủ tướng Chí­nh phủ tại Hội nghị các bên (COP) về mục tiêu đạt được mức phát thải riêng bằng “0” vào năm 2050.

Phát triển KCN sinh thái và những kết quả ban đầu

Tại Báo cáo tổng kết 30 năm phát triển KCN,KKT của Bộ Kế hoạch và đầu tư đã được Chí­nh phủ đồng ý, đến năm 2030 sẽ có từ 40%-50% địa phương có kế hoạch chuyển đổi các KCN hiện hữu sang KCN sinh thái và 8% – 10% địa phương có định hướng Xây dựng mới KCN sinh thái sẽ được thực hiện đồng thời với chuyển đổi KCN truyền thống sang KCN sinh thái. Tuy vậy đến nay có rất í­t KCN truyền thống thực hiện chuyển đổi sang mô hình các KCN sinh thái và mới chỉ đang được thực hiện thí­ điểm ở một số KCN do một phân nguyên nhân đã nêu trên.
Trong việc phát triển tăng trưởng xanh, KCN sinh thái là mô hình phát triển đúng hướng vì thu hút đầu tư gắn với tiêu chuẩn xanh. đây là biểu hiện của tư duy mới của các nhà hoạch định chí­nh sách để đón dòng vốn đầu tư thế hệ mới cả trong và Ngoài nước. Các tiêu chuẩn xanh và sinh thái đặt ra cho thấy có sự chọn lọc để tiếp nhận dòng vốn và không còn thu hút FDI có chất lượng thấp như truớc nữa (do phụ thuộc vào đặc thù của mỗi giai đoạn phát triển và không phải là những lỗi lớn mà chỉ là những tồn tại trong một qúa trình phát triển nhanh, hiệu quả của một nền kinh tế còn non yếu cân được phát triển nhanh). Theo tinh thân tại Nghị quyết số 50-NQ/TW/2019 của Bộ Chí­nh trị, và Nghị quyết số 58/NQ-CP/2020 của Chí­nh phủ thì từ một số năm gân đây “Chất lượng vốn được coi trọng hơn số lượng”. đồng thời đầu tư phát triển xanh, Xây dựng KCN sinh thái còn phả ánh trình độ Quản lý, chất lượng Quản lý FDI và các KCN, KKT đã được nâng cao lên rất nhiều. Từ đó tạo niềm tin về tỉ lệ phát thải riêng tiến về 0 đến năm 2030, việc xử­ lý chất thải sẽ được thực hiện đúng quy định. Việc thu hút FDI sẽ tuần thủ tiêu chuẩn công nghệ cao, thân thiện môi trường…
Tuy vậy, trước thực tế việc tổ chức thực hiện các định hướng phát triển kinh tế-xã hội vẫn còn có những bất cập nhất định, như: Những bất cập về sự không đồng bộ của hệ thống luật pháp chí­nh sách hiện hành: Chậm trễ trong thực hiện các thủ tục hành chí­nh; Hay do sự cẩn trọng xem xét đánh giá giải quyết các khó khăn vướng mắc của các doanh nghiệp nên cân xin ý kiến qua lại giữa các cơ quan Quản lý; và còn do sự cẩn trọng khi cân “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm”…Nhiều việc đã có phân chậm lại… Tình trạng đó nếu không được khắc phục sớm sẽ ảnh hưởng đến kết quả thực hiện việc phát triển các KCN sinh thái trong giai đoạn tới, sẽ ảnh hưởng đến việc thực hiện Chiến lược tăng trưởng xanh Nghị quyết 50 của Bộ Chí­nh trị, Ban Chấp hành Trung ương nêu trên.
Các KCN sinh thái xuất hiện sẽ tạo động lực mới để chuyển đổi KCN của cả nước theo tiêu chuẩn mới. Chi phí­ đầu tư hiện tại có thể cao song nếu chuyển đổi chậm thì chi phí­ chuyển đổi chắc sẽ còn cao hơn, như thế sẽ làm giảm tí­nh cạnh tranh của hàng hoá. Tiêu chuẩn xanh và sinh thái KCN còn thể hiện uy tí­n cao của Việt Nam trước thế giới bởi tí­nh tí­ch cực, chủ động hình thành KCN sinh thái. động thái này còn góp phân thu hút hiệu quả FDI đạt tiêu chuẩn xanh, sinh thái và truyền tải thông điệp quan trọng đến các nhà đầu tư quốc tế nhất là đầu tư thế hệ mới về một môi trường thu hút đầu tư xanh, sạch, sinh thái và bền vững.

KCN sinh thái – Lộ trình chuyển đổi

Hình thành hệ thống KCN sinh thái là con đường tất yếu, là hết sức cân thiết và đang là sự thôi thúc trong bối cảnh hiện nay. và để thực hiện Chiến lược tăng trưởng xanh, để đạt được mục tiêu thu hút được dòng đầu tư chất lượng cao, để khát vọng trở thành quốc gia phát triển bền vững thành hiện thực, việc chuyển đổi KCN truyền thống hiện hữu thành KCN sinh thái, và các KCN mới được Xây dựng theo mô hình sinh thái thì cân có quyết tâm hành động cùng với các chí­nh sách, cơ chế và phù hợp.
Trước hết, đầu tư cho KCN sinh thái, KCN xanh nhằm đảm bảo cho phát triển nhanh và bền vững đang là xu thế khách quan, là yêu câu cấp thiết nên cân trở thành lựa chọn định hướng phát triển của các địa phương, của các KCN.
Thứ hai, để mô hình KCN sinh thái nhân rộng trên cả nước và phát huy vai trò tí­ch cực đối với chiến lược phát triển kinh tế -xã hội bền vững của quốc gia, cân sớm xác định ngay lộ trình chuyển đổi mô hình các KCN truyền thống sang các KCN sinh thái. và Xây dựng mới các KCN sinh thái phù hợp, tí­nh đến điều kiện và năng lực khác nhau, tí­nh khả thi của từng vùng miền, địa phương và doanh nghiệp.
Thứ ba, việc tổ chức thực hiện thật cụ thể, sát thực tế đối với việc chuyển đổi và Xây dựng mới mô hình KCN của với từng địa phương và với định hướng phát triển từng ngành, từnglĩnh vực với việc nâng cao hiệu suất, hiệu quả sử­ dụng năng lượng.
đồng thời cân rí soát các qui định hiện hành về việc chuyển đổi các KCN với mô hình truyền thống hiện có sang mô hình phát triển các KCN sinh thái bền vững theo tăng trưởng xanh nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho nhà đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng các KCN. và các doanh nghiệp trong các KCN cân chuyển nhanh chóng thực hiện việc chuyển đổi.
Theo đó, cân sớm hoàn chỉnh và đồng bộ về thể chế, chí­nh sách, mô hình phát triển và phương thức Quản lý các KCN theo mô hình các KCN sinh thái. Nhà nước cân có các hỗ trợ nhất định về thuế, về Tài chí­nh, về đất đai…cho các đối tượng thực sự có khó khăn trong việc cân chuyển đổi mô hình KCN từ truyền thống sang sinh thái.
Việt Nam có thể học hỏi từ các quốc gia khác trong phát triển KCN, từ các kinh nghiệm sau: Xác định định hướng phát triển KCN phù hợp ngay từ đầu với bối cảnh phát triển của quốc gia và xu thế phát triển của kinh tế thế giới trong đó đặc biệt là xu hướng phát triển tăng trưởng xanh, thí­ch ứng với sự biến đổi khí­ hậu Toàn cầu; Qui hoạch Xây dựng hệ thống KCN quốc gia phù hợp với định hướng nêu trên; Xác định và Xây dựng hệ thống luật pháp chí­nh sách cho phát triển hệ thống KCN quốc gia đây đủ, đồng bộ nhưng chi tiết dễ áp dụng và thực hiện cho cả các chủ thể: doanh nghiệp chịu điều chỉnh của luật và bộ máy giám sát ,Quản lý hoạt động Xây dựng và kinh doanh của các KCN.
Việc hoàn thiện quy hoạch các KCN cũng cân được coi trọng và chú trọng hơn vào xanh hóa, vào sự cân đối và híi HIỆU giữa kinh tế, xã hội và môi trường sẽ giúp hệ thống KCN Việt Nam phát triển bền vững, thu hút nhà đầu tư chất lượng, gia tăng lợi í­ch kinh tế và bảo vệ môi trường trên từng m2 đất.
Chúng ta cân lưu ý rằng: trong cuộc cạnh tranh thu hút FDI Toàn cầu hiện nay, nhiều nhà đầu tư nước Ngoài đến từ các nước phát triển (ở Châu í‚u , Hoa Kỳ) với các dự án qui mô lớn, công nghệ cao mà Việt Nam đang rất cân đều đã cam kết thực hiện Net Zero vào năm 2030. Riêng Việt Nam cam kết thực hiện Net Zero vào năm 2050. Như vậy, nếu Việt Nam không có đủ số lượng KCN sinh thái sẽ mất đi cơ hội có thể thu hút được các nhà đầu tư tiềm năng cùng với các dự án qui mô lớn, công nghệ cao của họ.